Phụ Gia Cần Tránh Khi Sử Dụng Hóa Mỹ Phẩm Thiên Nhiên Gắn Mác & Thực Phẩm Sạch

Đánh giá post

Trong hóa mỹ phẩm công nghiệp và thực phẩm chế biến (processed food), các phụ gia độc hại từng bị lên án rầm rộ. Tuy nhiên, chúng vẫn “lặng lẽ” tồn tại thông qua các dạng hóa mỹ phẩm hay thực phẩm sạch gắn mác “thiên nhiên” với mức độ độc hại khó lường. Mỗi năm, tác dụng phụ từ các chất không tự nhiên này lại càng “lộ diện”. Noom “điểm mặt” một vài phụ gia để chị em cùng tránh nhé. Nhất là đối với mỹ phẩm thường hay sử dụng các chất trong thực phẩm để làm cho sản phẩm mỹ phẩm có tên thực phẩm, cảm thấy an toàn hơn. Cùng nhau tìm hiểu các loại gắn mác tự nhiên dưới đây.

Màu thực phẩm

Khi chọn mua thực phẩm hay mỹ phẩm, hầu hết các chất tạo màu được liệt kê ở mục thành phần hay “nhãn giá trị dinh dưỡng” (Nutrition Facts). Chúng thường có tên rất lạ, dạng con số và ký hiệu khác thường làm chị em mình khó hiểu, nó đích thực là hóa chất tổng hợp, nhân tạo và không xuất hiện trong tự nhiên.

Ví dụ, để tạo sức hấp dẫn lôi cuốn cho “thực phẩm sạch” và cả mỹ phẩm, “màu caramel” có thể được làm nhân tạo, chứa hóa chất có khả năng gây ung thư, được gọi là 4-methylimidazole (4-MeI). Hay màu vàng #5 thường thấy trong bỏng ngô, khoai tây chiên, ngũ cốc, kẹo… được coi là một chất gây dị ứng, tạo ra các phản ứng từ phát ban đến tử vong do sốc phản vệ. Ngoài ra, các tác động trong hệ thần kinh đang được nghiên cứu như một nguyên nhân tiềm ẩn của chứng rối loạn tăng động giảm chú ý.

mau-thuc-pham-trong-thuc-pham-sach
Ảnh minh họa về màu thực phẩm tổng hợp của chuchiko17

Như nấm độc, chúng thường đẹp mã nhưng hại người vô cùng. Dù thành phần là ký hiệu hay một dạng tên khó hiểu, chị em đừng quên tò mò về những gì đang sử dụng nhé. Đơn giản bằng mắt, bạn có thể tự hỏi rằng màu sắc bắt mắt này do đâu mà có, từ thành phần nào, có tự nhiên không. Tương tự với khứu giác, bạn cũng có thể “vén màn sự thật” về hương liệu thực phẩm nhân tạo.

Hương liệu thực phẩm

Có thể bạn chưa biết, trong năm 2006, hương thơm nhân tạo là chất gây dị ứng phổ biến thứ ba trong các thử nghiệm. Năm kế tiếp, hương liệu được bình chọn là chất gây dị ứng của năm bởi Hiệp hội Viêm da Tiếp xúc Hoa Kỳ. Nếu chị em thường dị ứng không rõ nguyên nhân, hãy thử tránh xa các hương nhân tạo, tốt nhất là không mùi.

Trớ  trêu, “hương thơm nhân tạo” lại lôi cuốn mê hoặc đến mức khó nghĩ rằng nó là nguyên nhân gây ra các vấn đề về sức khỏe gia đình. Tại Hoa Kỳ, 34,7% dân số đã báo cáo các triệu chứng đau nửa đầu và khó thở khi tiếp xúc với các sản phẩm có mùi thơm.

chat beo dau an luong vua du 2 560x374 1
Nó có thể khiến chị em dị ứng, đau đầu, và càng “đau đầu” hơn khi biết thủ phạm bấy lâu là mùi hương nhân tạo 

Việc tra cứu thành phần mùi hương càng khó hơn với nước hoa vì chúng không được công bố trên nhãn sản phẩm, “đường đường chính chính” che giấu hóa chất thực tế trong công thức bởi luật điều chỉnh mỹ phẩm bảo vệ bí mật thương hiệu tại Hoa Kỳ.

Chưa hết, dù nước hóa được quản lý bởi Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm, Ủy ban An toàn Sản phẩm Tiêu dùng, chúng không cần phê duyệt trước khi đưa ra thị trường, ngoại trừ thuốc. Nước hoa cũng được quy định chung bởi Đạo luật kiểm soát các chất độc hại năm 1976 rằng đã “sử dụng” các hóa chất hiện có mà không cần xem xét hoặc thử nghiệm thêm và đưa ra trách nhiệm chứng minh rằng một chất mới không an toàn cho EPA (environment protect agency USA). Tuy nhiên, EPA không tiến hành thử nghiệm an toàn độc lập mà dựa vào dữ liệu do nhà sản xuất cung cấp.

Các dữ kiện này cho thấy sự “mơ hồ” trong nhãn mác và thành phần sản phẩm, thậm chí ở những hóa mỹ phẩm và thực phẩm sạch gắn mác tự nhiên. Một nghiên cứu năm 2019 về các loại kem dưỡng ẩm da bán chạy nhất cho thấy 45% trong số đó chứa hương liệu mặc dù ghi nhãn là “không chứa hương liệu”.

Với tình hình thông tin “mập mờ” về mùi hương, chị em nên tránh các mùi thơm nồng, nống đến khác thường, tốt nhất là không mùi bởi hương nhân tạo đi cùng các vật chất lưu hương “phi tự nhiên” sẽ vào cơ thể tự nhiên của chúng ta, mỗi ngày. Nhớ nhé, lắng nghe khứu giác chính mình, mùi hương thơm nhất chính là không mùi.

Tuy nhiên, với những loại độc tố không màu, không mùi, nếu không thể nhận biết bằng mắt, bằng mũi, chúng ta làm sao phát hiện được?

Chất bảo quản và phụ gia nhân tạo độc hại đối với sức khỏe con người và môi trường từ thực phẩm sạch và hóa mỹ phẩm tự nhiên

Sản phẩm Sữa từ Bò được cung cấp Hormone Tăng trưởng

Hormone Tăng trưởng Tái tổ hợp của Bò (rBGH) được sử dụng chủ yếu để tăng sản lượng sữa. Việc sử dụng nó dẫn đến tăng viêm bầu vú. Những con bò sau đó được cho uống thuốc kháng sinh để giảm bớt tình trạng viêm nhiễm.

chat beo dau an luong vua du 5 560x374 1
Những con bò không bình thường sẽ cho ra sữa không bình thường, hãy cẩn trọng lựa chọn sữa hoặc không dùng sữa công nghiệp nếu bạn yêu cơ thể mình và yêu những con bò vô tội

Tuy nhiên, thuốc kháng sinh đang trở nên mất tác dụng vì được sử dụng quá mức trong điều trị động vật. Các nhà cung cấp sữa và sữa HWFC đã thông báo không được cung cấp các hormone tăng trưởng cho bò. Lưu ý: Việc cấm rBGH không áp dụng cho các sản phẩm đã qua chế biến, đóng gói sẵn. HWFC không thể xác định một cách đáng tin cậy nguồn nguyên liệu từ sữa, và do đó liệu có sử dụng hormone hay không. Các tiêu chuẩn hữu cơ không cho phép sử dụng rBGH, kháng sinh hoặc kích thích tố.

Dầu hydro hóa (Trans Fat)

chat beo dau an luong vua du 4 560x374 1
Bơ, kem thực vật trông rất tự nhiên, thơm nức mũi và là “cực độc”

Các nghiên cứu khoa học đã khẳng định dầu hydro hóa hay còn gọi là bơ thực vật bơ kem thực vật rất có hại cho sức khỏe. Các chuyên gia khuyến cáo rằng nên tránh sử dụng bất kỳ loại chất béo chuyển hóa nào. Kể từ năm 2006, tất cả các nhà sản xuất phải ghi nhãn sự hiện diện của chất béo chuyển hóa trên bảng “Thông tin dinh dưỡng” của bao bì.

Đường ăn kiêng

Chất ngọt nhân tạo: Aspartame (Nutrasweet), Saccharin (Sweet N ‘Low) và Sucralose (Splenda)

Mang tên là đường ăn kiêng nhưng thực chất chúng là những ví dụ về chất làm ngọt nhân tạo phổ biến. Các nghiên cứu ban đầu về aspartame cho thấy thuốc đã kích hoạt các khối u ở não, tuyến vú, tử cung, buồng trứng, tinh hoàn, tuyến giáp và tuyến tụy. Nhiều nghiên cứu gần đây cho thấy rằng aspartame làm tăng nguy cơ đau tim và đột quỵ. Các nghiên cứu trên động vật đã chỉ ra rằng saccharin có thể gây ung thư và nó được Tổ chức Y tế Thế giới liệt vào danh sách chất gây ung thư. Quốc hội Hoa Kỳ đã can thiệp để cho phép sử dụng nó ở Hoa Kỳ với nhãn cảnh báo. Sucralose đã không được các nghiên cứu sức khỏe lâu dài ở người.

noom phugiathucphamcantranh 499x374 1

Siro ngô Fructose cao (HFCS)

Một sản phẩm tinh chế không có giá trị dinh dưỡng, hầu hết được lấy từ ngô biến đổi gen (GMO). Nó có thể làm thay đổi bất lợi lipid máu, đặc biệt là chất béo trung tính, làm tăng nguy cơ mắc bệnh tim và góp phần gây béo phì. Các tác động môi trường có hại từ việc trồng ngô để sản xuất si-rô ngô bao gồm suy kiệt đất, dòng chảy nitơ, ô nhiễm thuốc diệt cỏ và thuốc trừ sâu.

chat beo dau an luong vua du 3 560x374 1
Đường trong phòng thí nghiệm là đường vào “cái chết trắng”

Do nhận thức của cộng đồng về tác hại tiềm ẩn đối với sức khỏe của HFCS được nâng cao, ngành công nghiệp thực phẩm chế biến đang nỗ lực tạo ra các dẫn xuất của HFCS từ ngô hoặc các loại tinh bột khác gây hại cho sức khỏe tương đương hoặc hơn HFCS. Sau đây là một số tên được biết đến hiện nay: xi-rô ngô, xi-rô glucose, xi-rô bột sắn, đường fructose trái cây, đường fructose kết tinh, đường fructose. Tất cả những điều đã đề cập ở trên sẽ được xử lý theo cách tương tự như HFCS.

Chất bảo quản

BHA (Butylated Hydroxyanisole)

Được nổi tiếng bởi vì là một chất gây ung thư ở bang California. Liên minh châu Âu phân loại BHA như một chất gây rối loạn nội tiết. Nó là một chất bảo quản và chất ổn định được sử dụng trong nhiều loại thực phẩm chế biến bao gồm khoai tây chiên và thịt bảo quản. Nó cũng được thêm vào chất béo và thực phẩm có chứa chất béo và được cho phép như một chất bảo quản có trong hương liệu.

BHT (Butylated Hydroxytoluene)

Anh em họ với BHA, nó cũng được thêm vào thực phẩm như một chất bảo quản. Hai hợp chất hoạt động “hiệp đồng” và thường được sử dụng cùng nhau.

Nitrites và Propionates

Là chất gây dị ứng. Chúng có thể gây ra các phản ứng nghiêm trọng ở những người nhạy cảm và bị nghi ngờ là chất gây ung thư.

Parabens

Một chất bảo quản tổng hợp được tìm thấy trong nhiều sản phẩm, từ thực phẩm đến mỹ phẩm và các sản phẩm dưỡng thể. Những hóa chất này tạo ra hiệu ứng estrogen và đã được tìm thấy trong quá trình nuôi cấy tế bào ung thư vú ở người.

Cơ quan An toàn Thực phẩm Châu Âu đã đặt ra mức tiêu thụ hàng ngày có thể chấp nhận được là 0-10 mg mỗi kg trọng lượng cơ thể mỗi ngày đối với metyl- và ethylparaben. Các sản phẩm điển hình có chứa paraben bao gồm bia, nước sốt, món tráng miệng, nước ngọt, cá chế biến, mứt, dưa chua, các sản phẩm từ sữa đông lạnh, rau chế biến và siro tạo hương vị.

Propylparaben, được sử dụng làm chất bảo quản trong thực phẩm như bánh ngô, bánh nướng xốp và thuốc nhuộm thực phẩm, là một hóa chất gây rối loạn nội tiết, hoạt động như một estrogen tổng hợp yếu. Nó có thể làm thay đổi sự biểu hiện của các gen và đã được báo cáo là có thể đẩy nhanh sự phát triển của các tế bào ung thư vú. Nó cũng có liên quan đến việc suy giảm khả năng sinh sản ở phụ nữ.

Potassium Sorbate, kali sorbate

Một chất bảo quản được sử dụng để ngăn chặn sự hình thành của nấm mốc và nấm men trong thực phẩm, rượu vang và các sản phẩm tắm rửa gội chăm sóc cá nhân. Các nghiên cứu trong ống nghiệm cho thấy rằng nó độc hại đối với DNA và có ảnh hưởng tiêu cực đến khả năng miễn dịch. Đây là lý do tồn những loại thực phẩm, mỹ phẩm thiên nhiên nhưng gần như không hư hỏng nấm mốc, nó đã “hỏng” bởi phụ gia trước khi xuất xưởng nhưng chúng ta không hề nhận biết trước.

Potassium Bromate

Một chất oxy hóa được sử dụng làm phụ gia thực phẩm, chủ yếu trong quá trình sản xuất bánh và đã được Cơ quan Nghiên cứu Ung thư Quốc tế phân loại là có thể gây ung thư cho con người. Nó bị cấm sử dụng trong thực phẩm ở tất cả các nước EU, Canada, Argentina và Brazil. Bang California yêu cầu dán nhãn cảnh báo trên bất kỳ loại thực phẩm nào có chứa chất phụ gia này. Các nghiên cứu trên động vật chỉ ra rằng nó độc hại đối với thận và có thể gây tổn thương DNA.

Natri Benzoat, Kali Benzoat và Canxi Benzoat

Khi kết hợp với Vitamin C, chúng tạo thành benzen, một hợp chất có khả năng gây ung thư cao làm hỏng ty thể trong tế bào.

sotchuaphugiathucpham 429x374 1
Và thông thường, nước sốt có chứa natri benzoate lại hay dùng với salad và thực phẩm chứa Vitamin C.

Coco betaine chất tạo bọt

Hay còn gọi là camidopropyl betaine chất tăng cường tạo bọt trong dầu gội, chất hoạt động bề mặt có độ bền trung bình cũng được sử dụng trong các sản phẩm tắm như xà phòng rửa tay. Thậm chí các hãng hóa mỹ phẩm hữu cơ cũng đang sử dụng coco betaine với quảng cáo là tự nhiên nhưng thực chất là 1 phụ gia gây viêm da dị ứng được Mỹ bầu chọn chất dị ứng của năm 2004

PFCs(Perfluorinated Compounds)

Bao gồm một loạt các chất hóa học được gọi là fluorotelomer, các chất hóa học kháng dầu mỡ có liên quan đến ung thư và dị tật bẩm sinh. Được sử dụng trong hộp bánh pizza, túi bỏng ngô lò vi sóng, giấy gói bánh mì sandwich và bao bì thực phẩm khác. Có gần một trăm PFC được sử dụng trong bao bì thực phẩm, 3 loại gần đây đã bị FDA cấm.

pfoa
Độc tính miễn dịch liên quan đến việc tiếp xúc với Perfluorooctanoic Acid (PFOA) hoặc Perfluorooctane Sulfonate (PFOS)

Fluorotelomer cuối cùng phân hủy thành Axit Perfluorooctanoic (PFOA) và các chất hóa học tương tự trong cơ thể chúng ta và trong môi trường, nơi chúng cực kỳ dai dẳng; kết quả là chúng đã làm ô nhiễm đất, không khí và nước ngầm tại các địa điểm trên khắp Hoa Kỳ. Độc tính, tính di động và khả năng tích lũy sinh học của PFCs gây ra những tác động có hại cho môi trường và sức khỏe con người. Một số PFC thường được biết đến là:

PFOA (Perfluorooctanoic Acid)

Được sử dụng trong các sản phẩm bảo vệ bề mặt như thảm, chất xử lý quần áo và lớp phủ cho bao bì giấy và bìa cứng. PFOA đã được phân loại là “có thể gây ung thư cho người” (Nhóm 2B), dựa trên bằng chứng hạn chế ở người, rằng nó có thể gây ung thư tinh hoàn và ung thư thận.

PFOS (Perfluorooctane Sulfonic Acid) Các nghiên cứu dịch tễ học đã chỉ ra mối liên quan giữa phơi nhiễm PFOS và tỷ lệ mắc ung thư bàng quang. Cũng có bằng chứng về độc tính cấp tính cao đối với ong mật.

PTFE (Teflon) chất chống dính

phugiacantranh 560x374 1
PTFE là chất chống dính nhưng rất dễ phát tán chất độc chỉ từ 2-5 phút ở nhiệt 176.6℃

Theo các thử nghiệm do EWG ủy quyền, bề mặt Teflon cho dụng cụ nấu nướng và bề mặt chống dính có thể vượt quá nhiệt độ tại đó lớp phủ bị vỡ ra và thải ra các vật phẩm và khí độc hại. Các tác động độc hại được giải phóng chỉ trong vòng 2-5 phút trên bếp đun thông thường ở nhiệt độ trên 176℃, và có liên quan đến cái chết của gia cầm vật nuôi do sốt khói polyme.

Xathan Gum

Chất ổn định

Tất thảy các liệt kê ở trên, có thể nằm trên đĩa thức ăn nhà bạn, mỗi ngày, mỗi bữa ăn và cả trong mỹ phẩm với nhiều bước skincare, tiếp xúc da nhiều giờ đồng hồ. Bị chìm ngập trong một thị trường thực phẩm sạch, mỹ phẩm gắn mác thiên nhiên đầy phụ gia, chất bảo quản, hóa chất độc tố như vậy, chị em chúng ta cần phải thật tỉnh táo và có kiến thức sâu hơn thay vì chỉ nghe lời truyền thông.

Noom hy vọng bài viết này là một phần kiến thức nhỏ giúp chị em mình tránh xa các độc hại tiềm ẩn cho gia đình. Các giải pháp tự nhiên thay thế sẽ được noom bật mí trong các bài viết tiếp theo. Chúc cả nhà có những lựa chọn thực phẩm sạch, mỹ phẩm thiên nhiên an toàn cho chính mình và gia đình nhé!

https://www.greenfacts.org/en/safety-assessment-cosmetics/l-2/index.htm#0

https://en.wikipedia.org/wiki/Allergen_of_the_Year

https://www.academia.edu/41218512/Natural_food_additives_ingredients_and_fl_avourings

https://www.fda.gov/cosmetics/cosmetic-products-ingredients/cosmetic-ingredients

https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/?term=%22Butylated+Hydroxytoluene%2Ftoxicity%22%5BMAJR%5D

https://en.wikipedia.org/wiki/Butylated_hydroxyanisole

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *